loading

Tăng Vốn Kinh Doanh Trong Nền Kinh Tế Thị Trường

 

Chương IVốn kinh doanh và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả vốn kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

1.1 Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1.1.1 Vốn kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm

Khái niệm trên cho thấy, hoạt động kinh doanh là hoạt động nền tảng của DN, và nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Mỗi DN đều có những đặc thù riêng song trong quá trình SXKD đều phải có đặc điểm chung là bắt đầu bằng các yếu tố đầu vào và kết thúc là các yếu tố đầu ra. Đầu vào là các yếu tố như: nguyên vật liệu, hàng hoá và dịch vụ mà DN sử dụng, kết hợp với nhau để tạo ra đầu ra. Đầu ra chính là các sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ có ích, sử dụng cho quá trình SXKD hoặc tiêu dùng. Để tạo ra đầu ra thì DN phải có một lượng tiền tệ đảm bảo cho các yếu tố đầu vào này, lượng tiền tệ này gọi là VKD của DN.

      “VKD của DN là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản sử dụng vào SXKD nhằm mục đích sinh lời”

Như vậy, vốn có tính chất quyết định trong hoạt động SXKD. Điều này đòi hỏi các DN phải quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả để bảo toàn và phát triển vốn giúp cho DN ngày càng lớn mạnh.Việc nhận thức đầy đủ hơn về vốn sẽ giúp DN hiểu rõ được tầm quan trọng và giá trị đồng vốn để sử dụng có hiệu quả hơn.

1.1.1.2. Đặc trưng của VKD

Để quản lý và sử dụng vốn một cách có hiệu quả DN cần phải nắm được những đặc trưng của vốn như :

Thứ nhất: Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định. Nghĩa là vốn đó được thể hiện bằng giá trị những tài sản có thực cho dù đó là tài sản hữu hình ( nhà xưởng, máy móc thiết bị, sản phẩm…) hay vô hình ( nhãn hiệu, bằng phát minh sáng chế…).

Thứ hai: Vốn phải được vận động sinh lời.Đặc trưng này của vốn xuất phát từ nguyên tắc: tiền chỉ được coi là vốn khi chúng được đưa vào SXKD, chúng vận động biến đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn là giá trị tiền phải lớn hơn khi xuất phát.

Thứ ba: Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng trong hoạt động kinh doanh. Đặc trưng này đòi hỏi DN cần lập kế hoạch để huy động đủ lượng vốn cần thiết và trong quá trình kinh doanh cần tái đầu tư lợi nhuận để mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Thứ tư: Vốn phải gắn liền với một chủ sở hữu nhất định. Mỗi đồng vốn phải gắn liền với một chủ sở hữu nhất định. Bởi ở đâu có những đồng vốn vô chủ thì ở đó có sự chi tiêu lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả.

Thứ năm: Vốn phải có giá trị về mặt thời gian.Nghĩa là phải xem xét yếu tố thời gian của đồng tiền.Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như lạm phát, giá cả thay đổi, tiến bộ khoa học không ngừng nên sức mua của đồng tiền ở mỗi thời điểm khác nhau là khác nhau.

Thứ sáu: Vốn là một thứ hàng hoá đặc biệt, chỉ bán quyền sử dụng. Trong nền kinh tế thị trường nhu cầu vay vốn của các DN rất cao. Do đó xuất hiện những tổ chức cá nhân tiến hành cho DN vay vốn, nhưng DN chỉ được quyền sử dụng vốn trong khoảng thơi gian nhất định và phải trả chi phí cho việc sử dụng vốn trong một khoảng thời gian đó. Như vậy, khác với hàng hoá thông thường, vốn khi bán ra sẽ không bị mất đi quyền sử dụng, người mua được quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định.

Thứ bảy: Tại một thời điểm, vốn có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà của cả tài sản vô hình. Đặc trưng này giúp DN có sự nhìn nhận toàn diện về các loại vốn, từ đó có thể đưa ra các biện pháp phát huy tổng hợp của VKD.

1.1.1.3. Phân loại vốn kinh doanh

Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển khi tham gia vào quá trình SXKD, vốn kinh doanh được chia thành hai loại:Vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ).

 Vốn cố định

Khái niệm VCĐ

Muốn tiến hành SXKD, trước hết mọi DN phải có tư liệu lao động.Tư liệu lao động có nhiều loại như máy móc, thiết bị nhà xưởng, phương tiện vận tải, các công trình kiến trúc…Bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động sử dụng trong quá trình SXKD của DN là các TSCĐ. Để hình thành các TSCĐ đòi hỏi DN phải ứng trước một lượng vốn tiền tệ nhất định, lượng vốn tiền tệ này được gọi là VCĐ của DN.

VCĐ là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên TSCĐ mà đặc điểm của nó là tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD và hoàn thành một vòng luân chuyển khi TSCĐ hết thời gian sử dụng”

VCĐ có vai trò rất quan trọng một mặt nó chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn đầu tư kinh doanh của DN. Mặt khác VCĐ là số vốn ứng trước để mua sắm các TSCĐ nên quy mô của VCĐ nhiều hay ít nó quyết định đến quy mô TSCĐ, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kĩ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất của DN. Song những đặc điểm kinh tế của TSCĐ lại ảnh hưởng chi phối đặc điểm tuần hoàn và luân chuyển của VCĐ.

Đặc điểm luân chuyển của VCĐ

– VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD. Điều này do đặc điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ SXKD quyết định.

– VCĐ dịch chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ SXKD. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận VCĐ được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (chi phí khấu hao) tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ.

– Sau nhiều chu kỳ sản xuất, VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển vào giá trị sản phẩm dần dần tăng lên song phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại giảm xuống cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm thì VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển.

Từ những đặc điểm luân chuyển của VCĐ đòi hỏi viêc quản lý VCĐ phải kết hợp vừa quản lý theo giá trị và vừa quản lý hình thái hiện vật của nó là các TSCĐ của DN.

Vốn lưu động

Khái niệm

Khi thực hiện SXKD ngoài tư liệu lao động, các DN còn phải có đối tượng lao động và sức lao động. Các đối tượng lao động như nguyên vật liệu, bán thành phẩm …chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các TSLĐ, còn về hình thái giá trị được gọi là VLĐ của DN.

” VLĐ là số vốn ứng ra để hình thành nên TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của DN thực hiện được thường xuyên, liên tục. VLĐ chuyển dịch giá trị toàn bộ ngay trong một lần và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.”

Đặc điểm của VLĐ

– Trong quá trình SXKD, VLĐ dịch chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới.

– VLĐ tham gia vào một chu kỳ SXKD, luôn thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn bằng tiền chuyển sang hình thái vốn sản xuất như vật tư, hàng hoá và kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm, VLĐ lại trở về hình thái ban đầu vốn tiền tệ. Sự vận động của VLĐ từ hình thái ban đầu qua các hình thái khác đến khi trở về hình thái ban đầu gọi là sự tuần hoàn của VLĐ. Do quá trình SXKD của DN diễn ra thường xuyên, liên tục nên sự tuần hoàn của VLĐ cũng lặp đi lặp lại có tính chu kỳ.

– VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn khi DN tiêu thụ sản phẩm và thu được tiền bán hàng.

Từ những đặc điểm đó công tác quản lý VLĐ được quan tâm, chú ý từ việc xác định nhu cầu VLĐ cần thiết, huy động nguồn tài trợ và sử dụng vốn phải phù hợp sát với tình hình thực tế SXKD.

Đặc điểm của TSLĐ và đặc điểm luân chuyển của VLĐ đã chi phối đến công tác quản lý, sử dụng VLĐ. Muốn quản lý và sử dụng hiệu quả VLĐ cần thực hiện tốt hai biện pháp sau:

+ Trọng điểm của quản lý VLĐ là tăng cường luân chuyển VLĐ qua các giai đoạn của chu kỳ SXKD.

+ Thực hiện phân loại VLĐ theo các tiêu thức khác nhau nhằm đánh giá sự hợp lý của cơ cấu VLĐ, từ đó có biện pháp đảm bảo sự phù hợp của cơ cấu VLĐ.

Để quản lý VLĐ được tốt cần phải phân loại VLĐ. Dựa theo các tiêu thức khác nhau có thể chia VLĐ thành các loại khác nhau :

Dựa theo hình thái biểu hiên của vốn :

  • Vốn bằng tiền và các khoản phải thu.
  • Vốn về hàng tồn kho.

Dựa theo vai trò VLĐ đối với quá trình SXKD:

  • Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất.
  • Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất.
  • Vốn lưu động trong khâu lưu thông.

Từ đặc điểm của VCĐ và VLĐ đòi hỏi công tác quản lý vốn của DN phải được quan tâm. Để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ thì cần phải quản lý VCĐ trên cả hai mặt hình thái hiện vật và giá trị. Muốn quản lý tốt và nâng cao hiệu quả  sử dụng VLĐ, DN phải quản lý trên tất cả các hình thái biểu hiện của nó.

Vui lòng chia sẻ bài viết này để nhìn thấy link Download tải luận văn miễn phí