loading

Thực Trạng Sử Dụng Vốn Oda Nhật Bản Cho Lĩnh Vực Giao Thông Đường Bộ Tại Tphcm

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ODA VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ODA

1.1. Tổng quan về ODA

1.1.1. Khái niệm về ODA

Trước tình hình đó để cứu vớt các đồng minh Tây Âu, đồng thời nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô và các nước Xã Hội Chủ Nghĩa ( XHCN ) mới hình thành, Mỹ đã triển khai “ Kế hoạch Marshall”, thông qua ngân hàng thế giới ( WB ), mà chủ yếu là Ngân hàng tái thiết và phát triển ( IBRD ) thực hiện viện trợ ồ ạt cho Tây Âu với tên gọi là khoản “ Hỗ trợ phát triển chính thức – ODA ( Official Development Assistance ) ’’ được ví là “ trận mưa dollar ” khổng lồ cho Châu Âu. Để tiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall, các nước Châu Âu đã đưa ra một chương trình phục hồi kinh tế có sự phối hợp và thành lập Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế – OECD. Trong khuôn khổ hợp tác và phát triển các nước OECD đã lập ra nhiều ủy ban chuyên môn, trong đó có ủy ban phối hợp tài trợ phát triển ( DAC ) nhằm giúp đỡ các nước đang phát triển nâng cao hiệu quả kinh tế của họ.

Trong ODA gồm có hai phần : Phần viện trợ không hoàn lại và phần vay ưu đãi với thời hạn dài và lãi suất thấp.

Từ năm 1960 trở đi, ODA được coi là khoản tài trợ quốc tế ưu đãi cho các nước chậm và đang phát triển.Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về ODA vì vậy có nhiều khái niệm khác nhau về ODA, cụ thể :

Theo ủy ban viện trợ phát triển, ODA là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với điều kiện ưu đãi của các Chính phủ, các Tổ chức phi Chính phủ dành cho các nước đang và kém phát triển.

Theo chương trình phát triển Liên hợp quốc ( UNDP ) ODA bao gồm các khoản cho không và các khoản cho vay. Đó là các nguồn vốn do các bộ phận chính thức cam kết ( nhà tài trợ chính thức ), nhằm mục đích cơ bản là phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội, và được cung cấp bằng điều khoản tài chính ưu đãi có yếu tố không hoàn lại ít nhất bằng 25%.

Theo ngân hàng thế giới thì “ Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức là một bộ phận của tài chính phát triển chính thức, trong đó các khoản vay cần đạt ít nhất 25% yếu tố cho không ”.

Đứng dưới góc độ nước tiếp nhận ODA, ở Việt Nam theo Nghị định 131/2006/NĐ – CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ thì “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên Chính phủ ”.

1.1.2. Đặc điểm của ODA

ODA thực chất cũng là một khoản vay nhưng nó không hoàn toàn giống với các khoản vay khác bởi một số đặc điểm riêng biệt sau :

  • ODA mang tính ưu đãi :

Đây là một đặc trưng quan trọng để phân biệt ODA với các khoản vay khác. Tính chất ưu đãi thể hiện ở chỗ :

– Ưu đãi về thời gian cho vay: ODA có thời gian cho vay dài, thời gian ân hạn lâu. Thường thì thời gian cho vay của ODA từ 30 – 40 năm và thời gian ân hạn từ 5 – 10 năm. Điều này làm giảm áp lực trả nợ của khoản viện trợ.

– Ưu đãi về nguồn vốn: ODA là khoản vay kết hợp giữa một phần cho vay ưu đãi và một phần cho không. Trong đó yếu tố cho không là phần mà nước nhận tài trợ không có nghĩa vụ phải trả nợ. Đây là một ưu đãi đặc biệt hỗ trợ rất nhiều đối với các nước nhận viện trợ.

– Ưu đãi về lãi suất vay: So với các khoản tín dụng thương mại khác thì ODA có mức lãi suất thấp hơn nhiều, thường là 0 – 3% /năm.

  • ODA mang tính ràng buộc :

Ràng buộc có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp, bởi có thể khẳng định rằng không có sự cho không hoàn toàn, cho bao giờ cũng đi kèm với nhận. Đối với các nước tài trợ, ODA được sử dụng như một công cụ gây sức ép chính trị, kinh tế hay vì mục tiêu khác. Điều đó dẫn tới ODA có tính chất ràng buộc. Các nước viện trợ khi cung cấp ODA thường xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của mình vào nước tiếp nhận viện trợ. Nước nhận viện trợ còn phải đáp ứng các yêu cầu của bên cấp viện trợ như việc thay đổi chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế, thay đổi thể chế chính trị . . . cho phù hợp với mục đích của bên tài trợ.

Với đặc điểm này của ODA, khi nhận viện trợ các nước tiếp nhận cần cân nhắc kỹ lưỡng những điều kiện của nhà tài trợ, không vì giải quyết những lợi ích trước mắt mà đánh mất quyền lợi lâu dài. Đồng thời các nước viện trợ cần tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào nội bộ của nước tiếp nhận nhằm đảm bảo nguyên tắc bình đẳng đôi bên cùng có lợi.

  • ODA có khả năng gây nợ :

Hầu hết các khoản vay nói chung đều đi kèm với lãi suất, kể cả vay ưu đãi. Tuy ODA có mức ưu đãi nhưng vẫn có khả năng gây nợ, tuy mức nợ nần giảm xuống song thời gian trả nợ dài dẫn tới có thể gây gánh nặng nợ trong tương lai. Do nguồn vốn ODA được sử dụng trong lĩnh vực phi sản xuất vật chất như phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, phát triển y tế, văn hóa, giáo dục nên hiệu quả mà nó mang lại là gián tiếp, có tính chất hỗ trợ các ngành sản xuất trong nước. Trong khi đó nợ ODA tiếp tục dồn lại càng ngày càng làm tăng gánh nặng nợ của nước tiếp nhận viện trợ. Do đó cần quản lý tốt khoản vay này kết hợp với các nguồn vốn khác để tăng khả năng trả nợ.

1.1.3. Phân loại ODA

Có nhiều cách phân loại nguồn vốn ODA khác nhau căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, cụ thể :

  • Căn cứ vào tính chất tài trợ ODA gồm có:

– Viện trợ không hoàn lại : Nước tiếp nhận không có nghĩa vụ phải hoàn trả . Loại ODA này chủ yếu dành cho các nước chậm và đang phát triển với mục đích ưu tiên sử dụng cho các chương trình, dự án thuộc lĩnh vực không có khả năng thanh toán vốn như : phục vụ xã hội, nghiên cứu chính sách . . .

– Viện trợ có hoàn lại : Là các khoản vay ưu đãi. Thường người ta phải tính được mức độ không hoàn lại (hoặc thành tố ưu đãi ) lớn hơn 25% vốn vay mới được coi là ODA ưu đãi.

– Viện trợ hỗn hợp : Là khoản viện trợ gồm một phần cho không và một phần cho vay (có thể có ưu đãi hoặc không ưu đãi ), nhưng tổng các thành tố ưu đãi phải trên 25%.

  • Căn cứ vào mục đích sử dụng ODA gồm có :

– ODA hỗ trợ cơ bản : Là các khoản ODA dành cho việc thực hiện nhiệm vụ chính của các chương trình, dự án đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Thường là các khoản vay ưu đãi.

– ODA hỗ trợ kỹ thuật : Là khoản tài trợ dành cho chuyển giao tri thức, chuyển giao công nghệ, phát triển năng lực, xây dựng thể chế, nghiên cứu tiền đầu tư các chương trình, dự án …Thường là các khoản viện trợ không hoàn lại.

  • Căn cứ vào điều kiện để được nhận tài trợ :

– ODA không ràng buộc : Người nhận không phải chịu bất cứ ràng buộc nào.

– ODA có ràng buộc : Người nhận phải chấp nhận một số điều kiện từ phía nhà tài trợ.

        + Ràng buộc nguồn sử dụng : Chỉ mua sắm hàng hóa, thuê chuyên gia, thuê thầu … theo chỉ định.

        + Ràng buộc mục đích sử dụng : Chỉ được sử dụng cho một số mục đích nhất định nào đó qua chương trình, dự án …

– ODA hỗn hợp : Là khoản tài trợ mà một phần có ràng buộc, một phần không chịu ràng buộc nào cả.

  • Căn cứ vào hình thức thực hiện các khoản đầu tư :

– ODA hỗ trợ dự án : Là hình thức chủ yếu của ODA nghĩa là ODA sẽ được xác định cho các dự án cụ thể . Có thể là hỗ trợ cơ bản, hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ không hoàn lại hay cho vay ưu đãi.

– ODA hỗ trợ phi dự án : Không gắn với các dự án đầu tư cụ thể như :Hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ trả nợ …

– ODA hỗ trợ chương trình : Là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát nào đó trong một khoảng thời gian xác định.

Vui lòng chia sẻ bài viết này để nhìn thấy link Download tải luận văn miễn phí